Hành Trình Về Phía Những Đau Thương

JoĐaRe Nguyễn Khoa.CRM


Ở nơi ấy, phía sau những rẫy điều và rừng cao su bạt ngàn là những con đường đất đỏ lầy lội mùa mưa, bụi mịt mù mùa nắng, là những cánh rừng, những triền đồi xa xôi. Kỳ giúp hè năm nay, khi được bề trên sai đến để dấn thân và phụ giúp mục vụ tại giáo xứ Châu Ninh, tôi không nghĩ mình lại có cơ hội được chạm sâu đến thế vào những ngóc ngách khốn khó của phận người. Người ta thường nhắc đến truyền giáo như một sứ mạng cao cả trên bục giảng hay những thước phim hoành tráng. Nhưng khi trực tiếp lội bộ đi vào tận những bản làng Xtiêng xa xôi, tôi mới ngộ ra rằng: truyền giáo hóa ra là bước chân lầm lũi đi vào tận cùng của cái đói, cái nghèo, để mang trái tim của Thầy Chí Thánh đến ôm ấp những mảnh đời đang oằn mình chống chọi với số phận.

Những chuyến đi của tôi không mang theo những điều lớn lao. Chỉ một ít tiền mặt gom góp từ sự chắt chiu của những tấm lòng hảo tâm của hội Dòng và của xứ đạo nghĩa tình. Thế nhưng, đằng sau món quà nhỏ bé ấy là cả một trời thương cảm, là nhịp đập của tình người muốn xoa dịu những nhọc nhằn của kiếp nhân sinh.

Chiếc xe máy tròng trành đứa tôi vượt qua con dốc trơn trượt để vào một cụm dân cư thưa thớt của anh chị em Xtiêng. Ở đây, khái niệm về một ngôi nhà kiên cố dường như là thứ quá xa xỉ. “Họ nghèo lắm thầy ơi, cái đói cái rét nó đeo bám từ đời ông cha đến đời con cháu, chẳng biết khi nào mới khá lên được.” (lời của Chị Thơ người đồng hành cùng tôi).

Điều làm tim tôi thổn thức và suy ngẫm nhiều nhất trong hành trình này, đó là nỗi lòng của tình người không hề bị rào cản bởi tôn giáo hay sắc tộc. Trong danh sách những hoàn cảnh cần thăm hỏi mà tôi được biết, không chỉ có những anh chị em Xtiêng đã theo đạo Công giáo, mà còn có cả những anh chị em tân tòng mới nhận ơn phần rỗi, và thậm chí là rất nhiều bà con ngoại giáo chưa từng biết đến cây thánh giá là gì, và tôi hiểu rằng Chúa đến với tất cả mọi người. Ai đang đói thì cần được chia cơm, ai đang đau thì cần được sẻ chia, an ủi. Khi những món quà được trao tay, ánh mắt của bà con Xtiêng không giấu được sự xúc động. Không có khoảng cách giữa người ban phát và kẻ nhận ơn, chỉ có tiếng cười mộc mạc, cái nắm tay siết chặt và những lời thăm hỏi bằng tiếng kinh dẫu bập bõm nhưng chân tình. Ở nơi cùng tận của sự khốn khó, tình người bỗng trở thành thứ ánh sáng sưởi ấm duy nhất, xua đi cái lạnh lẽo của núi rừng.

Càng đi sâu vào cánh rừng cao su, bức tranh nghèo khó càng hiện lên rõ nét và ám ảnh tâm trí tôi. Có những gia đình, nói là nhà nhưng thực chất chỉ là vài tấm bạt rách nát căng tạm bợ dưới tán cây rừng, lấy đất trời làm giường, lấy gió ngàn làm chăn qua đêm. Mùa nắng thì oi bức như thiêu đốt, mùa mưa nước từ thượng nguồn đổ về ngập ngụa, bùn đất dính chặt vào chân tay. Cảnh nghèo của những con người thực sự nghèo của kiếp người khiến tôi, một tu sĩ vốn quen với sách vở và nhịp sóng tu viện phải lặng người nghẹn ngào tự hỏi về ý nghĩa của sự dấn thân.

Ngày đầu tiên tôi được đi và cùng hoàn cảng đầu tiên được gặp là cảnh của một cụ ông Xtiêng đã bước vào tuổi xế chiều. Cụ sống một mình trong căn chòi xiêu vẹo, con cái nghèo khó đi làm thuê tứ xứ chẳng đủ ăn. Điều ám ảnh nhất là vết thương ở chân của cụ do một tai nạn từ nhiều ngày trước. Vì không có tiền đi viện, không có thuốc men sát trùng, vết thương đã bắt đầu nặng hơn, rỉ máu và có mủ. Nhìn đôi chân gầy guộc, chai sần giờ đây sưng to, rớm máu, lòng tôi quặn thắt. Đôi bàn tay gân guốc bám chặt lấy cột nhà, miệng rên rỉ những tiếng không nên lời. Nhưng trong ánh mắt mờ đục ấy, khi cảm nhận được sự ấm áp từ người giám đến với mình, cụ đã rớm nước mắt. Giọt nước mắt già nua lăn dài trên gò má sạm đen nắng gió, mặn chát và đau đớn. Khoảnh khắc ấy, tôi thấy hình ảnh của Chúa Giêsu đang chịu đau khổ ngay trước mặt mình.

Sau khi thăm hỏi và trao cho nhau những lời động viên và chút quà nhỏ. Tôi rời căn chòi của cụ ông, tôi đến thăm em – một cô gái Xtiêng hãy còn rất trẻ, độ tuổi đôi mươi đáng lẽ ra phải được rộn rã tiếng cười bên trường, bên bạn bè, bên những mùa trăng. Thế nhưng, em đang nằm gí trên chiếc võng rách, cơ thể chỉ còn lại da bọc xương. Bệnh ung thư gan giai đoạn cuối đã cướp đi sức sống của em. Chiếc bụng đã bắt đầu phình to vì dịch tích tụ, làn da xám vàng, đôi mắt trũng sâu mệt mỏi. Em thở từng nhịp nặng nhọc, yếu ớt. Mẹ em, một người phụ nữ Xtiêng khắc khổ, ngồi bên cạnh bất lực nhìn con. Bà nghẹn ngào kể rằng gia đình đã bán đi mảnh rẫy duy nhất, vay mượn khắp nơi để mua thuốc cứu con, nhưng bệnh tình quá nặng, bác sĩ đành trả về. Tôi ngồi xuống cạnh em, đặt tay lên bàn tay lạnh ngắt, gầy guộc của em, thầm dâng một lời nguyện nhỏ và trao vội chút tiền mặt để gia đình mua ít thuốc giảm đau. Em không nói được nhiều nữa, chỉ khẽ chớp mắt, một giọt nước mắt lăn dài. Nhìn em, tôi tự hỏi tại sao cuộc đời lại cay nghiệt đến thế với những con người vốn đã chịu đựng quá nhiều thiệt thòi này? Và còn đó biết bao hoàn cảnh khác khiến lòng tôi quặn thắt suốt dọc đường về. Là những cụ già neo đơn không nơi nương tựa, ngày ngày tha thẩn đi kiếm củ mì, đọt măng rừng qua bữa. Là những gia đình đông con mà cái đói, cái chữ cứ đuổi theo nhau biền biệt. Có những đứa trẻ Xtiêng bụng ỏng da chì, quần áo lem luốc bám theo không phải để xin kẹo, mà chỉ để nhìn ngắm những gói mì tôm với ánh mắt thèm thuồng. Nhìn nụ cười ngây thơ của các em khi nhận được chiếc bánh hay vài gói mì mà lòng tôi lại nhói đau vì biết ngày mai các em vẫn phải đối mặt với cái đói đang chờ sẵn.

Chia tay bà con khi bóng chiều đã ngả dài trên những ngọn cây rừng, lòng tôi mang theo một nỗi niềm nặng trĩu. Những thứ kia dẫu sao cũng chỉ là giải pháp tạm thời cho cái đói trước mắt. Tôi có đến rồi cũng sẽ rời đi, họ lại phải đối mặt với thực tại phũ phàng của cuộc sống mưu sinh.

Chuyến đi giúp hè này không hề vô nghĩa đối với chính bản thân tôi. Đến với Châu Ninh để giúp hè, để được học, để được đón nhận và đặc tôi mới là người được nhận lại nhiều nhất. Tôi nhận ra rằng truyền giáo không phải là những bài giảng lý thuyết khô khan trên bục giảng nhà thờ, mà là Tin Mừng bằng hành động cụ thể là dám đội nắng vượt mưa, dám ngửi mùi hôi tanh của vết thương hoại tử, và dám để trái tim mình rỉ máu cùng nỗi đau của tha nhân.

Ngồi trên chiếc xe trở về giáo xứ khi màn đêm đã buông xuống trùm kín núi rừng, tôi nhìn qua khung cửa kính. Ánh đèn pha xe quét qua những triền đồi vắng lặng. Đâu đó trong bóng tối kia, những mảnh đời bất hạnh vẫn đang co ro gần tán cây cao su lạnh lẽo. Hôm nay đây, trong tâm hồn người tu sĩ trẻ là một ngọn lửa ấm áp đang bùng lên.

Những hạt giống của tình yêu thương đã, đang và sẽ tiếp tục được gieo xuống mảnh đất sỏi đá Châu Ninh ngày hôm nay chắc chắn sẽ đơm hoa kết trái. Cái nghèo có thể còn đó, những đau thương chưa thể ngày một ngày hai mà xóa mờ hết, nhưng tình người thì đã ở lại. Và chính tình ấy, ơn sủng ấy là sức mạnh để tôi tiếp tục bước đi trên con đường dâng hiến, đem Chúa đến với những mảnh đời cùng cực nơi mọi miền tổ quốc và anh em tôi sẽ thay tôi đến với Giáo xứ Châu Ninh, thôn 134, thôn Điểu Trong và vùng đất đại ngàn Bù Đốp này. 

Ban Truyền Giáo CRM

×