Trước khi lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy (còn gọi là Bí tích Rửa tội), mỗi chúng ta đều phải tuyên thệ từ bỏ ma quỷ, từ bỏ những hành động mờ ám xấu xa. Chúng ta cũng tuyên xưng đức tin, trọn vẹn đầy đủ mọi tín điều được nêu trong kinh Tin kính. Chính trong đức tin này mà chúng ta được tái sinh làm con Thiên Chúa. Và rồi, đức tin ấy luôn được tuyên xưng, không chỉ qua ngôn từ và môi miệng, mà qua chính cuộc đời của chúng ta, ở mọi nơi, mọi lúc. Tiếc rằng nhiều Ki-tô hữu không ý thức hoặc quên điều cốt lõi ấy.
Khoa Giáo lý phân biệt giữa đức tin được tuyên xưng và đức tin được sống. Nói dễ hiểu hơn, là giữa việc tuyên xưng đức tin và thực hành đức tin. Hai lãnh vực này bổ túc cho nhau. Đức tin cần được tuyên xưng bằng môi miệng; đức tin cũng cần được thể hiện trong cuộc sống. Đó mới là đức tin trọn vẹn. Đức Giê-su nói: “Không phải hễ ai nói với Ta: ‘Lạy Chúa, lạy Chúa’ đều sẽ vào Nước Trời đâu, nhưng chỉ những người làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời mà thôi.” (Mt 7,21). Sau này thánh Gia-cô-bê viết: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết.” (Gc 2,17).
Chúng ta có thể dễ dàng tuyên xưng đức tin khi vui vẻ khỏe mạnh và làm ăn phát đạt và khi an bình hạnh phúc. Tuy vậy, tuyên xưng đức tin vào thời điểm bệnh tật, làm ăn thua lỗ không phải là điều dễ. Hơn nữa, trong thực tế, luôn có những khác biệt, thậm chí là mâu thuẫn, giữa tâm tình trong nhà thờ và thái độ ngoài cuộc sống của cùng một con người. Khi đó, đức tin có nguy cơ trở thành một công thức suông bề ngoài.
“Người ta bảo Thầy là ai? Các anh bảo Thầy là ai?”. Hôm nay Chúa Giê-su vẫn đang hỏi chúng ta những câu hỏi ấy. Câu trả lời của các môn đệ ban đầu là dựa vào những lời đồn đại của dân chúng: “Người thì bảo … người khác lại bảo…”. Đức tin vào Chúa Giê-su không phụ thuộc vào lời đồn đại, nhưng phải được học hỏi và phải là niềm xác tín nơi người Ki-tô hữu.
“Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống!”. Thánh Phê-rô đã tuyên xưng như thế. Đức tin là một ân ban đến từ Thiên Chúa chứ không phải là một nhân đức đến từ con người. Vì vậy, Chúa Giê-su khẳng định: chính Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời đã mạc khải cho anh điều ấy. Sau này, tông đồ Phao-lô viết: “không ai có thể nói “Đức Giê-su là Chúa” mà lại không do Thánh Thần” (1 Cr 12,3).
Tin vào Thiên Chúa, là tin vào Đấng quyền năng vô biên, nhưng Đấng ấy lại huyền nhiệm siêu hình. Lý trí con người giới hạn không thể hiểu hết về Thiên Chúa, mặc dù đã được Thiên Chúa mạc khải và ban ơn soi sáng. Chính vì vậy, đức tin của người tín hữu cần đi đôi với con tim yêu mến và tâm tình phó thác. Điều đó có nghĩa, chúng ta luôn tin rằng Chúa hiện diện trong đời sống của chúng ta và Ngài luôn làm những điều tốt đẹp cho chúng ta. Bởi lẽ bản tính của Thiên Chúa là nhân hậu và yêu thương. Thánh Phao-lô nói với tín hữu Rô-ma: không ai dò thấu được ý định và chương trình của Thiên Chúa, vì Ngài là Chủ của muôn loài. Như thế, tin vào Thiên Chúa quyền năng sẽ dẫn chúng ta tới sự tín thác hoàn toàn vào tình yêu của Ngài, và chúng ta dành cho Ngài con tim yêu mến trọn vẹn chân thành.
Ngôn sứ I-sa-i-a (Bài đọc I) ghi lại lời Thiên Chúa lên án một người bất trung, đó là ông Sép-na, một vị tướng triều đình thời vua Khít-kia (Hezekiah). Ông là một nhân vật lịch sử có thật, giữ chức vụ tể tướng, có vai trò rất quan trọng trong hoàng cung. Tuy vậy, ông kiêu ngạo và lạm dụng quyền lực, nên bị Thiên Chúa truất phế. Qua lời tuyên bố truất phế quan tể tướng Sép-na, Chúa lại tiên báo một vị lãnh đạo trong tương lai, đó là Ê-li-gia-kim, người thay thế Sép-na. Ông này được mô tả như người mang “chìa khóa nhà Đa-vít”, biểu tượng cho quyền bính chính đáng và trung tín. Thông điệp của ngôn sứ I-sai-a là: Thiên Chúa luôn ban thưởng cho những ai trung tín và cậy trông nơi Người.
“Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống!”. Thánh Phê-rô đã được Chúa Cha mạc khải để có thể tuyên xưng với niềm xác tín như vậy. Ước chi mỗi tín hữu chúng ta cũng luôn tuyên xưng chân lý ấy, không chỉ bằng môi miệng, nhưng bằng chính cuộc đời.
+TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
Nguồn:https://www.tonggiaophanhanoi.org/