TIẾP XÚC – Chúa nhật III Phục Sinh

“Lạy Chúa, xin chỉ cho chúng con con đường sự sống.” Bài suy niệm của cha Roberto Pasolini, giảng thuyết viên của Phủ Giáo Hoàng.

Sau biến cố Vượt Qua của Người, khi đã được giải thoát “khỏi những đau khổ của cái chết” (Cv 2,24), Chúa Phục Sinh tìm cách thiết lập một sự tiếp xúc với nhân loại chúng ta, bằng cách đặt những bước chân của Người bên cạnh bước chân của chúng ta, điều chỉnh nhịp vui của Người cho phù hợp với sự chậm chạp của những gương mặt buồn bã và cam chịu của chúng ta.

Trang Tin Mừng mà thánh Luca thuật lại về cuộc gặp gỡ muôn đời giữa sự thất vọng của chúng ta và sức mạnh biến đổi của Phục Sinh bắt đầu với việc Đức Giêsu tiến lại gần hai môn đệ đang trên đường và “cùng đi với họ” (Lc 24,15). Hai người lữ hành không nhận ra Người, “mắt họ bị ngăn cản không nhận ra Người” (Lc 24,16), có lẽ vì tâm hồn họ vẫn còn “bối rối” (Lc 24,22) bởi sợ hãi và đau khổ.

Không xét đoán, không trách móc, Chúa dường như tìm kiếm sự đón nhận trong chính những nẻo đường đứt gãy của chúng ta. Người không ra lệnh, không đòi hỏi; Người cùng đồng hành với chúng ta và quan tâm đến những câu hỏi chúng ta mang trong lòng:
“Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” (Lc 24,17).

Một trong hai người, Cơ-lê-ô-pát, can đảm bày tỏ sự tức giận và thất vọng:
“Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” (Lc 24,18).

Biết bao lần, khi khép kín trong đau khổ của mình, chúng ta cố chấp đọc lịch sử theo cách cảm nhận riêng, bị chi phối bởi những gì đã chịu đựng, mà không còn nhớ đến những điều tốt đẹp mà chính trong những lúc bi thương nhất, chúng ta vẫn có thể trao ban. Chúng ta thích khép mình trong nỗi buồn, quên rằng mầu nhiệm đau khổ là điều mọi người đều trải qua. Nhất là chính Thiên Chúa, Đấng đón nhận thực tại sâu xa hơn nhiều so với điều chúng ta sẵn sàng chấp nhận.

Chỉ mới bốn mươi tám giờ kể từ cuộc Thương Khó khủng khiếp, nhưng dường như Đức Giêsu không hề giữ lại ký ức nào về bạo lực Người đã chịu mà không đáp trả:
“Chuyện gì vậy?” (Lc 24,19).
Quả thật, Thiên Chúa “không nhớ đến điều xấu đã chịu”, không “ghi nhớ điều ác” (1 Cr 13,5), vì Người là tình yêu và tha thứ.

Trước thái độ ấy, hai môn đệ cảm thấy tự do để nói ra, kể lại các sự kiện một cách hoàn hảo nhưng không có hy vọng:
“Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng…” (Lc 24,21).

Bao nhiêu lời nói của chúng ta cũng giống như vậy: những lời nhằm giải thích thực tại, nhưng là một câu chuyện không có Tin Mừng, một thứ tin xấu và sai lệch, giống như những gì thường đầy dẫy trên báo chí và truyền thông. Đức Giêsu lắng nghe với kiên nhẫn và tình yêu, vì Người biết rằng đau khổ không biến mất cho đến khi có ai đó gánh lấy nó. Nhưng Người không để các môn đệ bám chặt vào đó, và đã nghiêm khắc khiển trách:
““Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ?” (Lc 24,26).

Thật khó để nhổ tận gốc đau khổ và chữa lành những vết thương nội tâm. Đôi khi điều đó dường như bất khả thi, như cố nhổ một cái cây chỉ bằng hai bàn tay. Những lựa chọn sai lầm, những tổn thương đã chịu, những tai nạn xảy ra, những cơ hội bị bỏ lỡ: bằng vô vàn cách, sự thất vọng đi vào lòng người và làm cạn kiệt hy vọng.

Nhưng Đức Giêsu có một thẩm quyền đặc biệt trong lãnh vực này, bởi trước hận thù và bạo lực, Người đã không chọn trốn chạy nhưng chọn con đường tha thứ. Sau cái chết và sự phục sinh, tiếng nói của Người trở nên tự do để giải thích lời của thập giá, loan báo rằng yêu thương đến mức hiến mình không phải là giới hạn cuối cùng khiến cuộc sống bị mắc kẹt, nhưng là cơ hội quyết định để gặp được một ân sủng “quý hơn cả sự sống” (Tv 62,4).

Chúa cầm lấy Kinh Thánh và giải thích rằng ngay từ đầu, tất cả đều quy chiếu về Người (x. Lc 24,27), rằng “phải như thế” (Lc 24,26): điều đó là cần thiết cho chúng ta và cho chính Người. Cần thiết vì sự dữ có thật và gây đau khổ, nhất là cho người phải chịu đựng nó. Nhưng cũng cần thiết vì điều thiện cũng hiện hữu, và mạnh hơn sự dữ, có thể chiến thắng nó.

Do đó, cần thiết để chúng ta biết Thiên Chúa sẵn sàng đi xa đến đâu vì chúng ta: Người không trao ban cho chúng ta “ những của chóng hư nát như vàng hay bạc” (1 Pr 1,18), nhưng là “nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích” (1 Pr 1,19), Con Một yêu dấu của Người.

Chúng ta cũng vậy, như hai môn đệ Emmau, có thể thôi chạy trốn và học “biết con đường về cõi sống” (Cv 2,28). Chính nơi tưởng như không còn niềm vui hay tương lai, chúng ta lại có thể hiện diện cách trọn vẹn, và nhờ hiệp thông với Chúa Phục Sinh, trở nên bánh của tình bằng hữu và rượu của tình huynh đệ cho mọi người anh em chúng ta gặp trên hành trình cuộc sống.

Nguồn: Vatican News