Sau hai tháng Hè thi hành sứ vụ tại Giáo xứ Tham Kha, một tu sĩ Dòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc nhận ra rằng biết “khó” mà vẫn đi, biết “khổ” mà vẫn dấn thân, có khi lại là một cái “khờ” rất đẹp của người truyền giáo.
“Chom pái Phạ” – nghĩa là “Tạ ơn Chúa”. Đây là một câu nói mà tôi được các anh chị em người Tày dạy trong những ngày nhận sứ vụ Hè ầu tiên tại Giáo xứ Tham Kha, Giáo phận Bắc Ninh, nằm trên địa bàn vùng cao thuộc tỉnh Tuyên Quang.
Bà con ở xứ vẫn hay hỏi: “Về xứ con, Thầy thấy như thế nào?”. Tôi nghĩ nếu chỉ trả lời “vui”, “thích” hay “tốt” thì hình như chưa đủ, nên tôi dùng ba từ “Khó – Khổ – Khờ” để diễn tả những gì mình đã trải nghiệm sau hai tháng Hè thi hành sứ vụ.
.png)
Khó khăn
Nơi giáo xứ nghèo vùng cao, xung quanh chủ yếu là đồi núi với những cung đường đèo dốc cheo leo, khúc khuỷu. Nhiều đoạn đường dù đã được trải nhựa nhưng không vì thế mà vơi đi sự khó khăn, vất vả khi di chuyển. Phạm vi mục vụ của giáo xứ trải dài khoảng 60 km, với các giáo họ và giáo điểm nằm rải rác trên những sườn núi.
Để đến được giáo điểm xa nhất, cách giáo xứ khoảng 60 km, phải mất hơn hai giờ rưỡi đi xe máy, chênh vênh trên những đoạn đường đèo, một bên là vách núi, một bên là vực sâu gió thổi mạnh. Đường đi quanh co với những khúc cua gấp liên tiếp; vừa qua khúc cua này đã thấy khúc cua khác phía trước, có những đoạn đường băng qua sườn núi.
Có những lúc chạy xe, tôi không dám nhìn xuống, run người vì sợ nhưng vẫn phải giữ bình tĩnh để di chuyển. Địa hình đất đỏ dốc và trơn trượt, đặc biệt vào những ngày mưa dầm kéo dài, sấm sét và gió quật. Những lúc gặp mưa bão khi đi mục vụ, chúng tôi không thể trở về giáo xứ ngay vì đường bị sạt lở, đất đá từ sườn núi rơi xuống mặt đường gây nguy hiểm, phải chờ dọn dẹp, thông đường mới có thể di chuyển.
Vào mùa nắng, ánh mặt trời gay gắt như thiêu như đốt, con đường đất đỏ bụi bay mịt mù mỗi khi có xe chạy qua. Cứ sau mỗi lần đi mục vụ, quần áo lại đổ thêm màu.
Nhưng rồi tôi cứ đi riết thành quen. Hằng ngày, anh em tu sĩ chúng tôi chia thành nhiều nhóm, luân phiên nhau trên những chiếc xe hai bánh cũ để đến với bà con ở các giáo họ và giáo điểm.
.png)
Tại giáo điểm Trung Minh, xa nhất, chỉ có vỏn vẹn sáu giáo dân. Dù số người ít ỏi, cộng đoàn vẫn quy tụ để cùng nhau hiệp dâng Thánh lễ Chúa Nhật lúc 13g30, sau đó dành thời gian gặp gỡ, trò chuyện và chia sẻ. Rồi nhóm linh mục và tu sĩ chúng tôi lại vượt thêm khoảng 30 km theo chiều về để đến một giáo họ khác và dâng Thánh lễ. Các nhóm khác cũng vậy.
Nhiều lúc mệt quá, tôi tự hỏi: “Sao phải đi xa thế?”. Nhưng rồi lại nghĩ: “Nếu mình không đi thì ai đến với họ?”
Có lẽ đó cũng là bài học đầu tiên tôi học được trong sứ vụ truyền giáo: Biết khó nhưng vẫn đi.
Khó về địa hình và thời tiết là vậy, nhưng còn một cái khó khác mà tôi cảm nhận rõ hơn sau những lần tiếp xúc với người dân, đó là ngôn ngữ.
Vùng truyền giáo tôi đến nằm trên địa bàn của các bản làng người Mông, người Tày. Người dân biết tiếng Việt nhưng không phải ai cũng nói được nhiều. Mỗi lần tiếp xúc với họ, chúng tôi thường phải nhờ một người giáo dân trong vùng giúp phiên dịch. Nhiều lúc tôi muốn hỏi và chia sẻ với họ nhiều điều nhưng phải nhờ người khác dịch lại.
Cứ lặp lại như vậy, tôi nhận ra ngôn ngữ là một khoảng cách và cũng là một trăn trở: Làm sao truyền giáo cho họ khi chính điều họ nói mình không hiểu, và điều mình nói họ cũng không hiểu?
.png)
Khổ về vật chất
Cuộc sống mưu sinh của người dân nơi đây chủ yếu dựa vào tự nhiên. Họ mưu sinh bằng nghề vào rừng hái măng, đào củ, lấy mật ong, săn bắt, trồng ngô… Nguồn thu nhập bấp bênh, không ổn định. Canh tác trên ruộng đồng, nương rẫy cũng có nhưng không đủ ăn do phương thức và kỹ thuật canh tác còn hạn chế.
Những bản làng người Mông vốn đã quen với cuộc sống gắn liền với núi rừng nên khi được đưa xuống sinh sống tại khu vực tái định cư, họ gặp không ít khó khăn trong việc thích nghi với môi trường mới, bởi nơi đây không còn những điều kiện quen thuộc để họ duy trì cuộc sống như trước: “Của ăn không có thì làm gì kiếm ra của để.”
.png)
Những năm gần đây, điều kiện giao thông được Nhà nước đầu tư hơn. Dù đường đèo vẫn quanh co và nguy hiểm, những tấm lòng hảo tâm vẫn tìm được cách đến với họ qua các vị ân nhân và đoàn từ thiện. Đơn cử như cửa hàng 0 đồng tại giáo điểm Tri Phú mới được khai trương vào tháng 7-2026, mở cửa vào mỗi Chúa Nhật hằng tuần.
Ngoài các nhu yếu phẩm và đồ dùng học tập, những bộ quần áo đã qua sử dụng được quyên góp. Đối với bà con, những thứ đó vẫn rất quý, để những ngày lạnh có đủ quần áo mặc ấm và những ngày khó khăn có cái để ăn.
Trong một lần đi mục vụ các gia đình người Mông, tôi được dịp ghé thăm và dùng bữa cùng một gia đình gồm ba thế hệ, với năm người lớn và hai trẻ nhỏ, sống chung trong một căn nhà gỗ đơn sơ với mái lá truyền thống.
.png)
Bữa ăn chỉ có một tô bún nấu với nước sôi, không thịt, không mắm. Mỗi người chỉ có một đôi đũa để gắp vì chẳng có bát đựng; chỉ có duy nhất hai chiếc thìa để mọi người thay phiên nhau ăn nước.
Ngoài khó khăn về vật chất còn có khó khăn trong đời sống đức tin. Ở những giáo điểm xa xôi, người Công giáo chỉ đếm được trên đầu ngón tay, quá ít so với bản làng nơi họ sinh sống. Có những giáo điểm, bà con Công giáo phải vượt 12-15 km đường đèo để tham dự Thánh lễ, rồi sau đó lại vượt cung đường ấy để trở về nhà.
Đức tin của họ còn rất đơn sơ. Có người còn không thuộc hết một kinh; có người chỉ biết mình được rửa tội, biết làm dấu Thánh Giá và biết mình là người Công giáo. Nhưng họ vẫn muốn giữ đạo và được gặp gỡ Chúa thông qua những người truyền giáo.
“Khờ” vì đức tin
Liệu các nhà truyền giáo có “khờ” không khi từ một nơi với điều kiện sống vật chất đầy đủ lại dấn thân đến với những bản làng xa xôi này?
Tại sao các linh mục và tu sĩ Dòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc lại chọn đến những nơi mà đức tin phải bắt đầu gầy dựng từ con số 0?
Có “khờ” không khi chỉ vì vài người giáo dân mà các tu sĩ phải đi xin hỗ trợ kinh phí để có những chuyến xe vào tận bản làng đón bà con về nhà thờ?
Có “khờ” không khi người khác đang nghỉ ngơi và dùng cơm thì các linh mục, tu sĩ lại khởi hành dưới cái nắng gay gắt hay trong những ngày mưa dầm, vượt hàng chục cây số đường đèo để đi mục vụ?
Và bà con giáo dân nơi đây có “khờ” không khi phải vượt hàng chục cây số để tham dự một Thánh lễ rồi lại trở về trên những con đường gập ghềnh bằng chiếc xe hai bánh đơn sơ?
Nếu cứ tính toán, một giáo điểm chỉ có sáu người có lẽ chẳng đáng để phải vượt 60 km đường đèo.
.png)
Nếu cứ tính toán, trời mưa, đường sạt lở, nguy hiểm thì ở nhà vẫn là lựa chọn tốt hơn, và những chuyến xe đưa giáo dân từ bản làng về nhà thờ cũng chẳng cần phải thực hiện.
Nếu ai cũng tính toán thì ai sẽ là người sẵn sàng lên đường?
Tôi bắt đầu hiểu rằng, “khờ” không phải là không biết đường xa, không biết mệt, không biết sợ. “Khờ” là biết khó mà vẫn đi, biết nguy hiểm mà vẫn bước tiếp, biết có thể chẳng nhận được gì nhưng vẫn đến vì niềm tin tưởng và phó thác vào Đấng mình đã yêu mến và kiên trung phụng sự đến cùng.
Nhưng càng đi, tôi càng nhận ra một điều: không chỉ các linh mục, tu sĩ mới “khờ”. Những người giáo dân ở đây cũng “khờ”.
Họ “khờ” khi sống đức tin giữa một bản làng mà người Công giáo chỉ có vài người. Họ “khờ” khi đi hàng chục cây số để dự một Thánh lễ. Họ “khờ” khi giữ đạo dù điều kiện chẳng có gì thuận lợi. Và họ còn “khờ” hơn nữa khi muốn những người anh chị em của mình cũng được biết đến Chúa.
Tôi nhìn họ và tự hỏi: “Nếu một người có ít điều kiện thuận lợi như vậy mà vẫn muốn giữ đức tin, thì tôi có thể viện lý do gì để không cố gắng?”
Lúc đầu tôi nghĩ mình đến đây để giúp họ, nhưng sau một thời gian, tôi lại thấy hình như mình mới là người được họ giúp. Tôi đến để dạy, nhưng họ dạy lại tôi về đức tin. Tôi đến để phục vụ, nhưng họ lại cho tôi thêm động lực để sống ơn gọi. Tôi đến để giúp họ sống ngày Chúa Nhật và nuôi dưỡng đức tin, nhưng chính họ lại làm cho tôi hiểu hơn thế nào là lòng nhiệt thành truyền giáo.
Nơi họ, tôi nhận được lửa truyền giáo thực sự. Tôi bắt đầu tự hỏi: “Liệu mình có đủ ‘khờ’ như họ không?”
Trước khi đến đây, tôi vẫn nghĩ người truyền giáo là người đem Chúa đến cho người khác. Nhưng sau hai tháng, tôi hiểu rằng không hoàn toàn như vậy. Có khi mình đến với họ để đem Chúa đến, nhưng chính những con người ấy lại giúp mình nhận ra Chúa đang ở đâu: trong những Thánh lễ chỉ có vài người, trong những con đường đèo chúng tôi đã đi, trong những gia đình nghèo mà vẫn có tiếng cười, trong những người giáo dân ít giáo lý nhưng vẫn cố gắng giữ đạo.
Đoàn sủng của Dòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc là Phúc Âm hóa những người ngoài Công giáo. Đối với tôi, sau mùa Hè này, đó không còn chỉ là một câu chữ trong sách hay một điều được nghe trong nhà Dòng. Tôi bắt đầu hiểu rằng muốn Phúc Âm hóa một con người, trước hết phải đến với họ, bước vào cuộc sống của họ, biết họ sống thế nào, vui vì điều gì, buồn vì điều gì; phải biết ngồi xuống với họ, dù đôi khi chẳng nói được nhiều vì khác ngôn ngữ. Có khi, trước khi nói cho họ biết về Chúa, mình phải học cách ở với họ.
Và Giáo xứ Tham Kha, đối với tôi, là một nơi như thế.
Bây giờ tôi mới hiểu hơn câu nói mà anh chị em người Tày đã dạy tôi:
“Chom pái Phạ” – Tạ ơn Chúa.
Tạ ơn Chúa vì những cái Khó.
Tạ ơn Chúa vì những cái Khổ.
Và cũng tạ ơn Chúa vì những cái “Khờ”.
Bởi vì nhờ những điều ấy, tôi đã được nhìn thấy một Giáo Hội rất khác: một Giáo Hội còn đơn sơ, nghèo về vật chất nhưng giàu về đức tin. Và tôi cũng hiểu rõ hơn về con đường mình đã chọn:
Nếu Chúa muốn sai tôi đi, xin cho tôi cũng biết “khờ” để dám đi, “khờ” để dám ở lại và “khờ” để yêu những con người khác biệt mà Chúa trao gửi đến.
.png)
.png)
Bài & Ảnh: Tu sĩ Gioan Phaolô II Maria Nguyễn Văn Hà, CRM
Nguồn: TGPSG