Một suy tư nhân kỷ niệm 60 năm ngày ban hành Hiến chế Lumen Gentium
21/11/1964-21/11/2024
Bênađô M. Nguyễn Thái Hoàng, CRM
Dẫn nhập
Theo ý hướng của Đức Gioan XXIII, Vaticanô II là một công đồng về mục vụ. Mặc dù các văn kiện của Công đồng nhiều lần nhắc lại những chân lý đức tin cũng như vạch ra điều gì là sai lầm, tuy nhiên Công đồng không chủ trương chống lại một lạc thuyết nào, cho bằng tìm ra một hướng đi cho Giáo hội trong hoàn cảnh hiện tại nhằm phục vụ lợi ích con người.[1] Dầu vậy, hướng đi của Công đồng lại tác động mãnh liệt đến suy tư thần học ngày nay. Một ví dụ tiêu biểu là tương quan giữa Giáo hội học và Thánh Mẫu học.
Trong một thời gian dài, Thánh Mẫu học thường được tiếp cận một cách quy hướng đến Kitô học. Tuy nhiên, vào những năm liền trước Công đồng, khuynh hướng đặt song đối Đức Maria và Giáo hội đã xuất hiện. Minh chứng cho điều này là sự ra đời của tác phẩm Maria und die Kirche (Our Lady and the Church) của tác giả Hugo Rahner, S.J vào năm 1961. Dựa vào tư tưởng các Giáo phụ, tác giả đã tái khám phá mối liên kết như thể bất khả phân ly giữa Đức Maria và Giáo hội. Theo đó, Rahner đề nghị một lối nhìn về mầu nhiệm Giáo hội qua Đức Maria và giáo lý về Đức Maria qua Giáo hội[2]. Lối tiếp cận này được Công đồng đón nhận khi đưa lược đồ về Đức Maria vào trong lược đồ về Giáo hội. Với ảnh hưởng của chương VIII Hiến chế Lumen Gentium, tương quan hai chiều giữa Đức Maria (Mater Christi) và Giáo hội (Mater Ecclesia) ngày càng được các nhà thần học chú trọng[3].
Đây cũng là phương pháp mà bài viết này muốn áp dụng để tìm hiểu mầu nhiệm Giáo hội. Cụ thể, chúng ta sẽ nhắc lại những định tín liên quan đến Đức Maria, rồi áp dụng nội dung đó vào mầu nhiệm Giáo hội. Như vậy, bài viết không chủ đích tìm hiểu về nội dung các định tín liên quan đến Đức Maria, cho bằng trình bày một số khía cạnh liên quan đến mầu nhiệm Giáo hội được gợi mở từ những định tín ấy. Nói cách khác, bài viết muốn trả lời câu hỏi: Nếu như Đức Maria là typus cho Giáo hội, thì Giáo hội được phản ảnh thế nào nơi Đức Maria, Đấng Vô nhiễm Nguyên tội, Đồng trinh trọn đời, Thiên Chúa Thánh Mẫu và Hồn xác lên trời?
1.Vô Nhiễm Nguyên Tội
a. Khía cạnh Thánh Mẫu học
Ngày 8/12/1854, Đức Thánh cha Piô IX đã long trọng định tín Đức Maria là Đấng Vô nhiễm Nguyên tội. Nội dung của tín điều như sau: “Trinh nữ rất thánh Maria, vào lúc đầu tiên thụ thai đã được gìn giữ không mắc phải tì ố của tội nguyên tổ, do ơn thánh đặc biệt và đặc ơn của Thiên Chúa toàn năng, và vì nhắm tới các công nghiệp của Đức Giêsu Kitô Đấng Cứu chuộc loài người.”[4] Để hiểu nội dung định tín này, trước hết cần lưu ý rằng cả bốn tín điều Thánh Mẫu học tiên vàn đều liên quan đến mầu nhiệm Đức Kitô. Cụ thể, với tín điều Vô nhiễm Nguyên tội, Giáo hội muốn nhấn mạnh tính ưu việt của ơn cứu độ do Đức Kitô mang lại. Ơn cứu độ này được thực hiện trong lịch sử, nhưng giá trị của nó thì siêu vượt trên phạm trù thời gian. Và như vậy, tín điều Vô nhiễm Nguyên tội không giảm thiểu vai trò của Đấng Cứu Thế. Đúng hơn, điều này là một minh chứng sống động cho quyền năng Thiên Chúa, cho tính phổ quát của công trình cứu độ.
Về phần Đức Maria, nhờ tình thương hoàn toàn nhưng không của Thiên Chúa, đã được gìn giữ khỏi mọi tì ố của tội nguyên tổ. Theo các nhà thần học, đây mới chỉ là khía cạnh tiêu cực của tín điều.[5] Khía cạnh này cần được bổ sung bằng lối nhìn tích cực, theo đó Đức Maria luôn tràn đầy ân sủng Thiên Chúa, luôn được Thiên Chúa ở cùng, và phần Mẹ cũng luôn sống trong ơn nghĩa với Chúa. Hiểu như vậy, khía cạnh tiêu cực chỉ là hiệu quả rút ra từ khía cạnh tích cực; và Đức Maria không chỉ là Đấng Vô nhiễm (Immaculata) nhưng còn là Đấng Rất Thánh (Panaghia), như được Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo (GLCG) nhắc tới ở số 493. Thêm vào đó, với đặc ân Vô nhiễm nguyên tội, Đức Maria được ban cho khả năng cộng tác vào công trình của Đức Kitô, mà Mẹ cũng là hoa quả đầu mùa của công trình ấy.
Như vậy, ơn Vô nhiễm nguyên tội nơi Đức Maria cũng đồng nghĩa với sự thánh thiện của Mẹ[6]. Sự thánh thiện này một mặt tiên vàn đến từ hồng ân cứu độ Thiên Chúa dành cho Mẹ, mặt khác cũng là điều kiện và động lực gợi nên nơi Mẹ tâm tình đáp trả, khi sống trọn vẹn tiếng “xin vâng” để phục vụ ơn cứu chuộc nhân loại.
b. Khía cạnh Giáo hội học
Những gì chúng ta đã trình bày trên đây về Đức Maria Vô nhiễm nguyên tội được áp dụng một cách sát khít cho Giáo hội, như được cất lên trong lời kinh Tiền tụng phụng vụ lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội:
Lạy Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, […] Cha đã gìn giữ Đức Trinh Nữ Ma-ri-a khỏi mọi vết nhơ nguyên tội. Cha đã cho Người được đầy ân sủng để Người xứng đáng là Mẹ của Con Cha. Nơi người, Cha đã phác họa hình ảnh một Hội Thánh rất xinh đẹp, không tỳ ố, không vết nhăn, là Hiền Thê của Đức Kitô.[7]
Thật vậy, nếu như Đức Maria là Đấng vô nhiễm và luôn luôn vẹn tuyền thánh thiện, thì Giáo hội Chúa Kitô cũng được tuyên xưng là thánh thiện và mãi mãi thánh thiện. Lịch sử hơn hai mươi thế kỷ đã nhiều lần ghi lại những vết đen trong Giáo hội, nhưng Giáo hội mãi là Hiền Thê không vết nhăn của Đức Kitô. Lý do là vì Giáo hội có nguồn gốc nơi Thiên Chúa là Đấng Thánh. Giáo hội luôn được Đức Kitô yêu dấu và không ngừng hiến thân để thánh hóa. Giáo hội được kết hiệp với Đức Kitô và trở nên Thân Thể Người, được ban tràn đầy Thánh Thần, Đấng Thánh hóa và là nguồn phát sinh mọi hoa trái thiêng liêng[8]. Như vậy, cũng như Đức Maria, Giáo hội thánh thiện không phải do bản thân Giáo hội, nhưng tiên vàn là bởi Thiên Chúa. Giáo hội là Dân Thánh không phải vì tất cả mọi con cái Giáo hội đã là thánh, nhưng vì Giáo hội cở bản là Dân Thiên Chúa và mọi thành viên đều được mời gọi nên thánh.
Thêm vào đó, như Đức Maria được ban đặc ân Vô nhiễm nhằm phục vụ chương trình cứu độ, Giáo hội được gìn giữ trong sự thánh thiện cũng không đi ngoài mục làm vinh danh Thiên Chúa và mưu ích cho nhân loại. Ở đây chúng ta gặp lại giáo huấn của công đồng Vaticanô II về vai trò của Giáo hội trong kế hoạch của Thiên Chúa: “Chỉ nhờ Giáo hội Công giáo của Chúa Kitô là ‘phương thế cứu rỗi chung’ ta mới có thể đạt được đầy đủ các phương tiện cứu rỗi.” [9] Như thế, Giáo hội không chỉ là thánh nhưng còn có thể làm cho con người nên thánh nhờ những phương tiên cứu độ Giáo hội thủ đắc khi kết hiệp với Đức Kitô. Tuy nhiên, cũng như Đức Maria đóng vai trò trung gian tùy thuộc vào Đấng Trung Gian duy nhất, Giáo hội được mời gọi cộng tác vào chương trình cứu độ, không phải như nguyên nhân nhưng chỉ là phương tiện cần thiết cho ơn cứu độ[10]. Trong ý định của Thiên Chúa, cả Đức Maria và Giáo hội đều xuất hiện trong cuộc chiến giữa người đàn bà và con rắn nơi chương 3 sách Sáng thế[11]. Và cả hai đều chiến thắng thế lực sự dữ bằng công trình cứu độ được thực hiện nhờ Đức Kitô.
Như vậy, khi chiêm ngắm Đức Maria Vô nhiễm nguyên tội (Mater Immaculata), chúng ta nhận ra một Giáo hội Vô nhiễm (Ecclesia Immaculata). Thật vậy, theo thánh Ambrôsiô, cả hai đều là Trinh nữ vô tì tích (Virgo immaculata)[12].
2. Đồng Trinh Trọn Đời
a. Khía cạnh Thánh Mẫu học
So với các tín điều Thánh Mẫu học khác, tín điều Đức Maria Đồng trinh trọn đời không được công bố bởi một công đồng chung hoặc một phán quyết long trọng của Đức Giáo hoàng. Giáo lý này chỉ được định tín tại công nghị Latêranô năm 649. Dầu vậy, truyền thống Giáo hội không ngừng khẳng định chân lý này và xem đây là một trụ cột của mạc khải đức tin[13]. Lý do vì tín điều này liên hệ mật thiết đến căn tính Đức Kitô. Ngài là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa, bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, đã nhập thể làm con Đức Trinh nữ, như Giáo hội vẫn tuyên xưng trong kinh Tin kính. Như thế, tín điều này trước hết mang ý nghĩa Kitô học, sau đó mới là nội dung Thánh Mẫu học.
Thêm vào đó, để hiểu tín điều này, chúng ta cũng cần nhận ra sự tiến triển về nội dung tín điều xét theo phương diện Thánh Mẫu học. Trước đây, khi nói đến giáo lý về sự trinh khiết, người ta thường nhấn mạnh đến khía cạnh thể lý. Điều này xem ra không phù hợp với não trạng đương thời, thậm chí nhiều khi như thể đánh giá thấp giá trị đời sống hôn nhân. Bởi đó, tín điều Đồng trinh trọn đời của Đức Maria bị nhiều tư tưởng hiện đại chỉ trích[14]. Tuy nhiên, khía cạnh thể lý dù quan trọng nhưng chỉ là mặt tiêu cực của tín điều. Trở lại với mạc khải Kinh thánh và truyền thống Giáo phụ, các nhà thần học còn chỉ ra những giá trị tích cực nữa. Theo đó, nền tảng của đời sống trinh khiết tiên vàn là vì Nước Trời (x. Mt 19, 11-12), và sự trinh khiết thể lý là tiền đề cần thiết cho sự khiết tịnh của con tim. Đây là điều vẫn được áp dụng cho những ai sống đời thánh hiến, và càng thích hợp hơn nữa khi quy chiếu đến sự đồng trinh của Đức Maria: Nơi Đức Maria, sự trinh khiết diễn tả tâm tình tận hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa, là sự tròn đầy của lời “xin vâng”, lấy Lời Chúa là lương thực nuôi dưỡng và hướng dẫn đời sống.
Như vậy, sự Đồng trinh của Đức Maria không chỉ mang nghĩa tiêu cực, nhưng cần được hiểu trong chiều hướng tích cực. Trong chiều hướng đó, trinh khiết trở thành nền tảng cho Hoa Trái phong nhiêu mà Thiên Chúa đã thực hiện nơi Mẹ. Sự phong nhiêu này được tiếp tục trong Giáo hội, Hôn Thê Trinh khiết của Đức Kitô.
b. Khía cạnh Giáo hội học
Truyền thống Giáo phụ vẫn gọi Giáo hội là một Trinh nữ[15]; và nơi Trinh nữ Giáo hội, mầu nhiệm Đức Maria trọn đời đồng trinh được tiếp tục đến tận cùng của thời gian, khi mà tất cả những ai được cứu chuộc sẽ không còn dựng vợ gả chồng, nhưng sống trinh khiết vĩnh viễn như các thiên thần (x. Mt 22, 30). Tiếp tục truyền thống đó, chúng ta sẽ đối chiếu Đức Maria và Giáo hội nhằm trình bày dung mạo Giáo hội là Trinh nữ dưới khóe nhìn Maria: Nếu như Đức Maria là Đấng Đồng Trinh trọn đời khi hoàn toàn phó dâng cuộc đời cho Thiên Chúa và kiên tâm lắng nghe, thực thi Lời Chúa, thì Giáo hội cũng được gọi là Trinh nữ khi hoàn toàn trung tín với Lang Quân của mình là Đức Kitô. Điều này được tìm thấy nơi giáo huấn của thánh Phaolô và được Giáo hội tiếp tục khai triển.
Thánh Phaolô đã ví Giáo hội ở Côrintô như một trinh nữ thanh khiết, là hôn thê Đức Kitô. Kế đó, qua câu truyện nguyên tổ Evà bị con rắn phỉnh lừa, thánh nhân cũng lo sợ nguy cơ lòng trí các tín hữu trở nên mù tối hư hỏng vì những giáo lý sai lạc (x. 2Cr 11, 2- 3). Theo mạch văn của Phaolô, sự trinh khiết của Giáo hội tiên vàn hệ tại việc Giáo hội trung thành tuân giữ giáo huấn Đức Kitô, và các lạc giáo chính là những nguy cơ làm hư tổn sự trinh khiết đó[16]. Dù đối diện với lạc giáo, Phaolô vẫn hy vọng về sự toàn vẹn trong đức tin Giáo hội, bởi Giáo hội đã được kết ước với Đức Kitô.
Thật vậy, dọc theo chiều dài lịch sử, Giáo hội mặc dù phải đối diện với nhiều khó khăn của lạc giáo nhưng vẫn “trọn đời đồng trinh”, như lời tuyên xưng của thánh Cyprianô: “Hiền thê của Đức Kitô không thể phạm tội ngoại tình, vì nàng khiết trinh và thánh thiện.”[17] Phần thánh Augustinô, ngài giải thích sự trinh khiết này:
Giáo hội là trinh nữ thanh khiết nghĩa là gì nếu không phải việc Giáo hội luôn tinh ròng trong đức tin, đức cậy và đức mến? Sự khiết trinh mà Đức Kitô muốn cho Giáo hội có trong tâm hồn của mình thì Người đã gìn giữ trước hết nơi thân xác Đức Maria. Nhưng Giáo hội chỉ là trinh nữ khi nàng được kết ước hoàn toàn với một Lang Quân, Đấng là con của Đức Trinh nữ.[18]
Ở đây, thánh nhân không những lặp lại giáo huấn của Phaolô về sự trinh khiết của Giáo hội, nhưng còn chỉ ra đâu là đảm bảo cho sự trinh khiết của Giáo hội: Giáo hội trinh khiết là vì có Đức Kitô. Bởi đó, cũng như sự đồng trinh của Đức Maria được thực hiện do quyền năng Thiên Chúa, thì việc Giáo hội luôn trung thành với Giáo huấn Đức Kitô, hay đặc tính Bất Khả Ngộ của Dân Chúa, chỉ tìm được nền tảng nơi Thiên Chúa. Điều này được công đồng Vaticanô II lặp lại:
Giáo hội cũng là trinh nữ đã giữ gìn toàn vẹn và tinh tuyền lòng trung nghĩa đã hiến cho Phu Quân; và noi gương Mẹ Chúa mình, nhờ thần lực của Thánh Thần, Giáo hội bảo tồn cho tinh tuyền một đức tin toàn vẹn, một đức cậy vững bền và một đức mến chân thành.[19]
Như vậy, giữa sự Đồng trinh của Đức Maria và Giáo hội có mối liên hệ với nhau. Thêm vào đó, nếu như sự Trinh khiết của Đức Maria là một chuẩn bị cần thiết cho việc sinh hạ Con Thiên Chúa, thì việc Giáo hội là Trinh nữ cũng hướng tới việc thông dự vào ơn gọi làm Mẹ nơi Đức Maria. Điều này sẽ được trình bày trong phần kế tiếp.
3. Thiên Chúa Thánh Mẫu
a. Khía cạnh Thánh Mẫu học
Đức Maria là mẹ của Đức Giêsu. Điều đó không ai chối cãi, bởi lẽ đây là sự thật hiển nhiên trong các tác phẩm Tân ước. Tuy nhiên, phải đến công đồng Êphêsô năm 438, Giáo hội mới chính thức tung hô Mẹ với danh hiệu Theotokos. Thực ra, công đồng Êphêsô không chủ ý bàn về Đức Maria, bởi lẽ đây là công đồng Kitô học. Tín điều Đức Maria Mẹ Thiên Chúa chỉ là hệ luận tất yếu của giáo lý về sự duy nhất của Ngôi Vị Đức Kitô[20]. Dâu vậy, điều chắc chắn là sau công đồng Êphêsô, lòng sùng kính Mẹ Thiên Chúa ngày càng phát triển trong Giáo hội.
Với định tín này, truyền thống Giáo hội nhận ra sự cao trọng trong phẩm vị làm mẹ nơi Đức Trinh Nữ. Sự cao trọng này không hệ tại nơi sự kiện Mẹ đã hạ sinh và dưỡng nuôi Đức Giêsu, nhưng có nền tảng nơi mầu nhiệm Nhập thể, Con Thiên Chúa nay trở nên con của Mẹ. Thêm vào đó, vì là Thân Mẫu của Đấng mà Thiên Chúa đặt làm trưởng tử giữa vô vàn anh em (x. Rm 8, 29), nên phẩm vị làm mẹ nơi Đức Trinh Nữ còn mang một giá trị phổ quát[21]. Đức Maria trở thành mẹ của mọi tín hữu trong hệ trật ân sủng[22]. Như thế, chức làm Mẹ Thiên Chúa nơi Đức Maria mang một ý nghĩa kép đôi, làm nên tương quan mẫu tử giữa Mẹ với Đấng Cứu Thế, và qua Đấng Cứu Thế là toàn bộ những ai được cứu chuộc.
Để thực thi ơn gọi cao trọng này, trước hết Đức Maria đã hết lòng ưng thuận chương trình của Thiên Chúa trong biến cố Truyền Tin. Bằng quyền năng Thánh Thần, Mẹ đã cưu mang và sinh hạ Ngôi Lời Nhập Thể mà vẫn trọn đời trinh khiết. Thêm vào đó, Đức Maria còn thực sự làm mẹ Chúa Giêsu khi Mẹ luôn biết lắng nghe, vâng giữ và tin tưởng nơi Lời Chúa, như giáo huấn của Đức Giêsu về gia đình đích thực của Người: “Phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (Mt 12: 50; Mc 3: 34). Cuối cùng, qua sự công tác rất đặc biệt vào công trình cứu độ, Đức Maria trở thành mẹ các tín hữu.
b. Khía cạnh Giáo hội học
Khi hướng lên Đức Nữ Trinh, chúng ta đã nhận ra chân dung Giáo hội như là trinh nữ. Cũng vậy, khi chiêm ngưỡng phẩm vị làm Mẹ Thiên Chúa nơi Đức Maria, Giáo hội cũng ý thức về chính mẫu tính của mình. Chỉ có điều, ơn gọi làm mẹ nơi Đức Maria và Giáo hội dường như đi theo hai chiều khác nhau: Đức Maria làm mẹ Đức Kitô, qua đó làm mẹ các tín hữu; còn Giáo hội khi sinh ra các tín hữu đã trở thành mẹ của Đức Kitô toàn thể.
Trước hết, Giáo hội thực sự là mẹ các tín hữu. Giáo lý này có nền tảng trong Kinh thánh và được khai triển trong chiều dài lịch sử Giáo hội. Trong Kinh thánh, hình ảnh Giáo hội là mẹ được đề cập cách rõ ràng nơi người Phụ Nữ của chương 12 sách Khải huyền. Người Phụ Nữ mang thai và sinh con ở đây cũng được áp dụng cho Đức Maria. Tuy nhiên, việc áp dụng cho Đức Maria chỉ xuất hiện sau này, khi các Giáo phụ nhận ra sự tương ứng giữa Giáo hội và Đức Maria cũng như giữa Đức Maria và Giáo hội. Thế còn người con được sinh ra ở đây được hiểu là Đức Kitô, song cũng có thể ám chỉ các tín hữu[23]: Giáo hội sinh Đức Kitô nơi tâm hồn các tín hữu và sinh ra các tín hữu trong đời sống Đức Kitô. Chắc hẳn Giáo hội không sinh hạ Đức Kitô như cách thức Đức Maria đã hạ sinh Đấng Cứu Thế. Tuy nhiên, giữa Đức Kitô và các tín hữu có một liên hệ mật thiết, mà theo kiểu nói của thánh Augustinô, làm thành Đức Kitô Toàn thể[24]. Vậy nên, Giáo hội thực sự là người mẹ sinh ra các tín hữu; và dựa trên tương quan giữa các tín hữu và Đức Kitô, Giáo hội được thông dự vào phẩm vị Thiên Chúa Thánh Mẫu của Đức Maria.
Khi làm sống lại tương quan giữa Đức Maria và Giáo hội, công đồng Vaticanô II cũng lặp lại truyền thống Giáo phụ về vai trò làm mẹ trong ơn gọi Giáo hội. Thêm vào đó, công đồng còn chỉ ra cách thức Giáo hội thực thi ơn gọi này:
Khi chiêm ngưỡng sự thánh thiện kỳ diệu và noi gương bác ái của Đức Maria cũng như trung thành chu toàn thánh Chúa Cha, Giáo hội vì trung thành lãnh nhận lời Thiên Chúa, nên cũng được làm mẹ. Thực vậy, nhờ việc rao giảng và ban phép rửa, Giáo hội sinh hạ những người con được thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần và sinh ra do Thiên Chúa để họ lãnh nhận một đời sống mới và bất diệt.[25]
Ở đây, chúng ta bắt gặp sự sóng đôi giữa Mẹ Giáo hội và Mẹ Maria. Có thể nói cả hai đều đã đón nhận và cưu mang Lời Nhập thể, vừa theo nghĩa thể lý vừa theo nghĩa tinh thần. Thế rồi cả hai cùng sinh hạ khi chu toàn sứ mạng được trao phó: một người Mẹ sinh hạ Người Con và mang lại Nguồn Sống cho những người con, và một người Mẹ sinh hạ những người con trong Người Con. Nơi cả hai người Mẹ này, quyền năng Thiên Chúa luôn bao phủ và làm phát sinh những quả phúc tuyệt vời. Đáp lại lời đề nghị của Chúa, cả Đức Maria cũng như Mẹ Giáo hội đã luôn trung thành lắng nghe, tuân giữ và chiếu tỏa thần lực của Lời hằng sống. Và tất nhiên, mỗi tín hữu chúng ta đều mắc nợ cả hai người Mẹ này.
4. Hồn Xác Lên Trời
a. Khía cạnh Thánh Mẫu học
Trong bốn định tín liên quan đến Đức Maria, tín điều Đức Maria hồn xác lên trời được tuyên bố muộn thời hơn cả. Sau khi tham khảo ý kiến các giám mục trên toàn thế giới, Đức Thánh cha Piô XII đã long trọng định tín giáo lý này, trong tông hiến Munificentissimus Deus đề ngày 01.11.1950. Nội dung căn bản của định tín là “Đức Maria vô nhiễm, Mẹ Thiên Chúa, trọn đời đồng trinh, sau khi chấm dứt dòng đời dưới dất, đã được cất về vinh quang trên trời cả xác hồn.”[26] Tuy được tuyên bố muộn thời, nhưng điều đó không có nghĩa là giáo lý này là điều mới mẻ được thêm vào đức tin Kitô giáo. Đúng hơn, giáo lý ấy phản ánh cảm thức đức tin của toàn thể Giáo hội, được đặt nền trên mạc khải Kinh thánh và chứng từ các Giáo phụ. Như các tín điều Thánh Mẫu học khác, tín điều Mông triệu của Đức Maria cũng liên quan đến giáo lý về Đức Kitô và trình bày cho chúng ta chân dung thần học Đức Maria.
Liên quan đến Đức Kitô, định tín này phản ánh hiệu quả của công trình cứu chuộc, mà Đức Maria là người đầu tiên được lãnh nhận trong đặc ân Vô nhiễm, giờ đây trở thành hoa trái đầu tiên chiếu tỏa “tia sáng huy hoàng mà Chúa Kitô đã mang lại cho nhân loại từ cuộc phục sinh khải hoàn.”[27] Như thế, việc Đức Maria được tặng thưởng hồng ân hồn xác lên trời là dấu chỉ của chiều kích cánh chung Đức Giêsu đã khởi sự nơi trần gian.[28] Đức Kitô là Đấng Alpha khởi đầu mọi sự, thì cũng là Đấng Ômêga sẽ thâu hồi vạn vật. Nơi Người, toàn thể vũ trụ được biến đổi. Nhất là trọn vẹn hữu thể mỗi người chúng ta cũng sẽ được biến đổi nên giống thân xác vinh hiển của Người (x. Pl 3, 21).
Với Đức Maria, hồng ân Mông triệu Thiên Chúa dành cho Mẹ vừa mang tính nhưng không, vừa là phần thưởng dành cho người nữ tì khiêm hạ đã liên kết chặt chẽ với Đấng Cứu thế, để cộng tác vào công trình Cứu độ. Chắc hẳn, Mẹ không đón nhận hồng ân này để rồi giữ lại cho riêng mình, song mở ra cho tất cả con cái Mẹ đang trên hành trình đức tin một niềm hy vọng vĩnh cửu. Niềm hy vọng này sẽ hoàn tất trong biến cố Quang Lâm mà Giáo hội không ngừng hướng tới.
b. Khía cạnh Giáo hội học
Lời nhận định trên đây giúp chúng ta nhận ra chiều kích cánh chung của Giáo hội dưới lăng kính Maria. Về điểm này, giáo huấn của công đồng Vaticanô II một lần nữa đóng vai trò soi sáng cho suy tư của chúng ta: “Ngày nay Mẹ Chúa Giêsu đã được vinh hiển hồn xác trên trời, là hình ảnh và khởi thủy của Giáo hội phải hoàn thành đời sau”.[29] Trong lời giáo huấn này, chúng ta rút ra những vấn đề liên quan đến Giáo hội.
Trước hết là ơn gọi của Giáo hội. Giáo hội được thiết lập không phải vì một mục đích nào khác, ngoài việc trở thành dấu chỉ hữu hiệu sự hiện diện của Nước Thiên Chúa nơi trần gian.[30] Điều Giáo hội nhắm tới không phải là những thực tại trần thế, nhưng tiên vàn chính là Nước Thiên Chúa. Và chúng ta cũng có thể nói ngược lại là chỉ vì Nước Thiên Chúa mà Giáo hội mới có lý do để tồn tại. Bởi đó, trọng tâm của Giáo hội là “mang ơn cứu độ được Chúa Cha trao ban đến cho hết mọi dân tộc để tất cả mọi người được nên một với nhau, ơn cứu độ chính là ‘Vương Quốc Thiên Chúa’ trong viễn tượng cánh chung.”[31] Và rồi, khi nhìn lên Đức Maria, Giáo hội ý thức về sự hiện tại của mầu nhiệm cánh chung này.
Chắc hẳn viễn tượng cánh chung chỉ thành toàn khi Đức Kitô trở lại. Tuy nhiên, không vì thế mà cánh chung thuần túy là chuyện của tương lai. Bởi lẽ nơi Giáo hội, Nước Thiên Chúa đã khởi đầu và đang tiến tới sự viên mãn của Đức Kitô. Nơi Giáo hội, thời đại cuối cùng đã đến và tiến trình canh tân bộ mặt trái đât đã thực sự bắt đầu[32]. Thành quả đầu tiên của sự viên mãn đó chính là hồng ân Mông triệu của Đức Trinh Nữ. Tất cả chúng ta, khi nỗ lực bước theo gương Mẹ sống giáo huấn Phúc Âm, chúng ta cũng được dự phần vinh quang với Đấng Phục Sinh.
Như thế, khi chiêm ngắm vinh quang thiên quốc của Đức Maria, Giáo hội nắm chắc về vận mệnh tương lai của mình. Vận mệnh đó không làm cho Giáo hội trở nên ảo tưởng. Đúng hơn, Giáo hội đang sống và nỗ lực sống vận mệnh đó. Bởi lẽ “Giáo hội, qua Đức Trinh Nữ diễm phúc, đã đạt tới sự toàn thiện làm cho mình không còn vết nhơ hay nét nhăn […] nhưng Kitô hữu vẫn còn phải cố gắng chiến thắng tội lỗi để lớn lên trong sự thánh thiện.”[33]
Kết luận
Trên đây chúng ta đã tìm hiểu mầu nhiệm Giáo hội khi chiêm ngắm Đức Trinh Nữ Maria. Chắc hẳn những suy tư trên đây còn thật nhiều thiếu xót, vì thực tế mỗi tiểu mục có thể là đề tài phong phú cho nhiều khảo luận. Thêm vào đó, vẫn còn nhiều khía cạnh mà bài viết chưa đề cập, chẳng hạn về vai trò của Giáo hội khi quy chiếu đến sự cộng tác của Đức Maria trong chương trình cứu độ. Tuy nhiên, những gì đã triển khai cũng đủ để rút ra hai hệ luận quan trọng trong Giáo hội học.
Hệ luận thứ nhất mang tính phương pháp nghiên cứu. Trong khi tôn trọng những nguyên tác chung của bộ môn thần học tín lý, mầu nhiệm Giáo hội có thể được tiếp cận theo nhiều lối khác nhau. Một trong những phương pháp tiếp cận mà bài viết đã áp dụng chính là nhìn Giáo hội dưới lăng kính Thánh Mẫu học. Phương pháp này bắt nguồn từ truyền thống các Giáo phụ và được công đồng Vaticanô II làm sống động lại. Với phương pháp này, chúng ta tìm được một vài gợi ý cụ thể để hiểu mầu nhiệm Giáo hội, một mầu nhiệm vừa gẫn gũi song nhiều khi trong thực tế lại khá xa lạ với các tín hữu.
Bên cạnh hệ luận thứ nhất mang tính lý thuyết, chúng ta cũng rút ra được hệ luận thứ hai lại mang tính thực hành nhiều hơn. Một bộ môn thần học không chỉ là một cuộc intellectus fidei, dù điều đó là cần thiết. Đúng hơn, những suy tư đó phải dẫn tín hữu đến việc sống đức tin hay praxis fidei. Theo đó, mỗi người chúng ta được mời gọi thực hiện một cuộc hoán cải mang tính Giáo hội học, cũng như sống mầu nhiệm Giáo hội trong hành trình đức tin. Khi đó, chúng ta đối diện với những câu hỏi: tôi phải sống mầu nhiệm Giáo hội là Dân Thiên Chúa, là Thân Thể Đức Kitô, là cộng đoàn các một đệ, là một Giáo hội thánh thiện, là Nước Thiên Chúa khởi sự nơi trần gian như thế nào? Và khi nhìn lên Đức Maria, chúng ta tìm được câu trả lời. Bởi lẽ nơi Mẹ, những đặc tính của mầu nhiệm Giáo hội không còn dừng lại nơi ý niệm, nhưng trở thành những chiều kích của đời sống đức tin. Như thế, khi trình bày mầu nhiệm Giáo hội dưới lăng kinh Maria, chúng ta làm sống lại trực giác của truyền thống Giáo phụ, được tóm trong châm ngôn cổ thời[34]: “Maria, vel Ecclesia, vel anima”– những gì Kinh thánh nói về Đức Maria thì được áp dụng một cách phổ quát cho Giáo hội, và tất cả những gì nói một cách phổ quát về Giáo hội thì hiểu đặc thù về mỗi tín hữu.
[1] X. “Lời giới thiệu tổng quát về Công đồng”, Thánh Công đồng chung Va-ti-ca-nô II, Bản dịch của Phân khoa Thần học Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X, http://vntaiwan.catholic.org.tw.
[2] X. Hugo Rahner, Our Lady and the Church, dg. Sebastian Bullough (Bethesda, Maryland: Zaccheus Press, 2004), x.
[3] X. Phan Tấn Thành, Magnificat (Tp. HCM: Học viện Đaminh, 2010), 12.
[4] Piô IX, Ineffabilis Deus, trích lại trong Phan Tấn Thành, sđd., 177.
[5] X. Phan Tấn Thành, sđd., 183.
[6] X. Hà Văn Minh, Giáo hội như là Dấu chỉ Bí tích (Hà Nội: Tôn Giáo, 2015), 82.
[7] “Kinh Tiền tụng lễ Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội”, Sách Lễ Rôma, Bản dịch của Ủy ban Phụng tự trực thuộc HĐGM Việt Nam, Ấn bản 1992.
[8] X. Lumen Gentium số 39; Hà Văn Minh, sđd., 80- 81.
[9] X. Unitatis Redintegratio số 3; GLCG số 824.
[10] X. Lumen Gentium số 14.
[11] X. Hugo Rahner, sđd., 17.
[12] X.Ambrôsio, Commentary on Luke II, 7, trích lại trong Hugo Rahner, sđd., 19.
[13] X. Phan Tấn Thành, sđd., 154.
[14] X. Sđd., 161.
[15] X. Hugo Rahner, sđd., 24- 25.
[16] X. Hugo Rahner, sđd., 28.
[17] Cyprianô, de catholicae ecclesiae unitate 6, trích lại trong Hugo Rahner, sđd., 30.
[18] Augustinô, Sermo 178, trích lại trong Hugo Rahner, sđd., 31.
[19] Lumen Gentium số 64; x. Hà Văn Minh, sđd., 72.
[20] X. Phan Tấn Thành, sđd., 146.
[21] X. Hà Văn Minh, sđd., 76.
[22] X. Lumen Gentium số 61; Gioan Phaolô II, Redemptoris Mater số 44.
[23] X. Clement Dillenschneider, “082 – Mary , Prototype of Personification of the Church” (1961), Marian Reprints, 95, http://ecommons. udayton.edu/marian_reprints/95.
[24] X. Hugo Rahner, sđd., 40.
[25] Lumen Gentium số 64.
[26] Piô XII, Munificentissimus Deus, trích lại trong Phan Tấn Thành, sđd., 191.
[27] Phan Tấn Thành, sđd., 194.
[28] X. Hugo Rahner, sđd., 124.
[29] Lumen Gentium số 68.
[30] X. Lumen Gentium số 3.
[31] Hà Văn Minh, sđd., 139.
[32] X. Lumen Gentium số 48.
[33] Lumen Gentium số 65.
[34] X. Raniero Cantalamessa, Đức Maria mẫu gương cho Giáo hội, dg. Nhóm linh mục Dalat. Truy cập ngày 21/11/2017, http://catechesis.net/ index.php/than-hoc/tin-ly/mau-nhiem-duc-maria/3242.
