Cánh cửa mở: Mầu nhiệm Vượt Qua tại khu phố đèn đỏ ở Bogotá, Colombia

Ở Colombia, có hai mùa các tu sĩ ở những thành phố lớn rời phố về quê, đi tới các vùng ngoại biên để sống triệt để hơn tinh thần truyền giáo: Tuần Cửu Nhật trước Giáng Sinh và Tuần Thánh. Cũng như nhiều nơi khác tại châu Mỹ Latinh, Colombia đang chứng kiến sự sụt giảm rõ rệt về số lượng ơn gọi đời sống thánh hiến. Điều đó đồng nghĩa với áp lực mục vụ ngày càng nặng nề, nhất là tại một đất nước rộng lớn, nơi dân cư vùng nông thôn sống thưa thớt và cách trở.


Ở nhiều giáo xứ quê, một cha xứ phải chăm sóc có khi hơn mười giáo điểm khác nhau. Muốn đến được từng nơi, cha phải di chuyển bằng xe hơi, băng qua những con đường dài, dốc và hiểm trợ. Có những ngày đi dâng lễ từ sáng đến tối mà vẫn không thể phủ hết các cộng đoàn mình phụ trách. Giáo dân phần lớn là người già, một ít trẻ em, và rất hiếm người trẻ. Người dân vốn đạo đức và gắn bó với đức tin. Nhưng vì đời sống quá biệt lập, việc tham dự phụng vụ dần trở nên khó khăn. Có người muốn đi lễ nhưng giáo điểm quá xa, sức không còn đủ để đi tới. Chính vì vậy, mỗi mùa Vọng và Tuần Thánh, các tu sĩ thường tham gia những chuyến tông đồ đến các vùng ngoại biên. Đó vừa là cách san sẻ áp lực mục vụ, vừa là một chứng tá của sự hiện diện, của việc cùng chia sẻ đức tin với những cộng đoàn thiệt thòi.

Riêng với tôi, trong những chuyến đi tông đồ như thế này, tôi không phải là người mang Chúa đến cho người dân vùng ngoại biên, nhưng lại cảm thấy như mình là một đạo sĩ chân trần rong ruổi những nẻo đường làng đến gặp Giêsu nơi những người dân quê chất phát, thô ráp.

Tuần Thánh năm nay, tôi đến một vùng ngoại biên đặc biệt, không phải là đồng quê xa xôi hẻo lánh, không phải là những đồi cao, dốc thoải, không cần phải trèo đèo, lội suối. Tôi đi đến giữa lòng Bogotá hoa lệ; nơi hoa cho kẻ tầm vui và lệ cho người mưu sinh bằng thân xác mình.

Santa Fe trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “thánh đức tin”, đây là tên gọi cũ của Bogotá trước khi đổi thành tên gọi như hiện tại – một từ trong tiếng của người Muisca. Bogotá đã từng là một nơi đầy đức tin như vậy.

Ngày nay, ở Bogotá khi nhắc tới khu vực Santa Fe là nhắc tới khu đèn đỏ khét tiếng, nơi hành nghề của cộng đồng chuyển giới nữ và phụ nữ, nơi đây cũng tập trung những điểm bán thuốc phiện có tổ chức, không tránh khỏi việc chia địa bàn giữa các băng đảng có vũ khí.

Ở khu Santa Fe có rất nhiều nghịch lý. Dù là nơi tầm lạc với sự hỗn loạn giữa các băng nhóm, nhưng thực ra đây lại là nơi khá an toàn vì đã được “bảo kê”, không xảy ra tình trạng cướp giựt như những khu vực khác ở Bogotá vì để đảm bảo trải nghiệm của “khách hàng” và đảm bảo “việc kinh doanh” được diễn ra thuận lợi. Ẩn đằng sau một khách sạn theo giờ, trên tầng cao nhất là một căn phòng cầu nguyện vẫn sáng đèn. Ở đây, những người phụ nữ mưu sinh bằng thân xác, nhưng bạn vẫn sẽ bắt gặp các chị đến viếng Chúa vào tối thứ năm Tuần Thánh, vẫn sẽ có các chị đi theo đoàn rước chặng đàng Thánh Giá vào thứ sáu Tuần Thánh, vẫn theo chân Đức Mẹ Sầu Bi vào sáng thứ bảy Tuần Thánh với một lòng thành kính sâu xa. Có lẽ trong những bước chân âm thầm ấy, họ cảm nhận được tình yêu thương và ánh nhìn cảm thông của Chúa, cũng như vòng tay dịu hiền của Mẹ. Có lẽ họ tìm thấy ý nghĩa thiêng liêng giữa nghịch cảnh, biến những tổn thương thành lời cầu nguyện, thành niềm hy vọng và sự tín thác vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Có lẽ họ tìm thấy vị trí của mình trong đám đông những người phụ nữ thành Giêrusalem xưa, đang khóc cho Chúa…hay khóc cho chính mình? Là khu đèn đỏ nhưng lại có sự hiện diện của khá đông các nhà dòng với một sự liên đới chặt chẽ và chia sẻ sứ mạng với nhau, mang một hy vọng chung đó là thắp lên một ngọn nến sáng giữa nơi tranh tối tranh sáng.

Trong bối cảnh đó, trong suốt Tuần Thánh, tôi ở lại một ngôi nhà cổ ở khu Santa Fe. Đây là nhà của các sơ dòng Chúa Chiên Lành, sau này, các sơ để lại cho các cha dòng Eudes làm trung tâm mục vụ gọi là Casa Refugio (tạm dịch là Nhà Trú Ẩn). Ở đây, các cha lập ra một Tổ chức gọi là Fundación Eudes làm rất nhiều các công việc mục vụ cho cộng đồng đa dạng (hay còn gọi là cộng đồng LGBTIQ+) cũng như cho các cư dân trong khu vực.

Một trong những điểm đến của những ngày đầu Tuần Thánh là một ngôi nhà trú ẩn dành cho các chị là nạn nhân của các loại bạo lực khác nhau, trong đó, nhiều nhất là các chị bị bạo lực tình dục. Chúng tôi có những buổi cầu nguyện nhẹ nhàng, giúp các chị bước vào tâm tình của Tam Nhật Thánh. Nhưng làm sao để nói về tình yêu cho những người bị tổn thương nhân danh “tình yêu”? Khi được mời chia sẻ về cảm nếm của các chị về tình yêu, tôi không quên được cách một chị diễn tả lại những cái chạm, những cái vỗ về của người chị gọi là “bố” để tha lỗi cho chị, hay của một bác diễn tả lại những bạo lực mà người chồng đã dành cho bác… Nhưng cũng chính từ những đổ vỡ của các chị, tôi nhận ra sâu thẳm trong đống đổ nát của tâm hồn, nơi các chị vẫn tràn ngập một tình yêu thương vô điều kiện, các chị nhắc lại tình cảm với con cháu, các em với một sự trìu mến chân thành, với những nghĩa cử của sự hy sinh vô cùng dịu dàng, tôi vẫn thấy trong đống tro tàn là một ngọn lửa yêu thương âm ỷ và ấm áp. Trong buổi cầu nguyện cuối cùng, để dẫn các chị vào mầu nhiệm Phục Sinh, chúng tôi cùng nhau suy nghĩ, và tìm các hoạt động đơn giản để các chị cảm nếm sự sống vượt qua cái chết. Sau cùng, chúng tôi chọn cho các chị trải nghiệm một chút sự thinh lặng và bóng tối bằng cách bịt mắt bằng một miếng vải, rồi đi vào lòng mình, đối diện với một điều mà các chị không thích, đang níu chân các chị, làm các chị không hạnh phúc, không cần phải là cái chết thể lý, nhưng là một điều gì đó khiến các chị không hạnh phúc. Sau 10 phút thinh lặng và ở lại trong bóng tối, chúng tôi mời các chị tháo khăn bịt mắt, bằng cử chị vứt bỏ tấm khăn, các chị bỏ lại điều đang giữ chân các chị. Hoạt động mang tính mô phỏng, vì không thể nói trực diện về Chúa, về Phục Sinh, khi ở đó, đôi khi có những người có kinh nghiệm bị lạm dụng bởi chính Giáo Hội, cũng không muốn đẩy các chị vào cảm giác nạn nhân một lần nữa, nên hoạt động này, sau khi được thảo luận và cân nhắc, chúng tôi cho rằng có thể giúp đạt được hiệu quả giúp các chị lắng đọng và đi vào mầu nhiệm của ánh sáng, của sự sống một cách nhẹ nhàng. Đúng là hiệu quả thật với hầu hết các chị. Nhưng tôi sẽ không bao giờ quên ánh mắt vụn vỡ của một chị, khi tôi đưa chị khăn bịt mắt và ngỏ ý giúp nếu chị muốn. Trong giây phút ngắn ngủi nhìn vào mắt chị, tôi biết rằng mình đã vô tình gợi lên trong chị một mảng ký ức, trải nghiệm tồi tệ khi người ta đã từng dùng hành vi bịt mắt để thỏa mãn nhu cầu trên thân xác chị.

Trải qua những buổi cầu nguyện với các chị, tôi học được rằng đằng sau tấm mai rùa gồ ghề, to lớn, cồng kềnh mà các chị khoác lên người là một tâm hồn đầy tổn thương, yếu đuối, và hướng thiện. Mỗi chị có một câu chuyện cuộc đời chưa bao giờ là đường thẳng, chưa bao giờ liền mạch.

Sáng thứ năm Tuần Thánh Đức Hồng Y Luis José đến ăn sáng, và cử hành Phụng vụ Lời Chúa cùng với nghi thức rửa chân cho các chị. Các chị được mời lên để được rửa chân không được chọn trước, chỉ tới phần nghi thức, ai cảm thấy sẵn sàng, và mong muốn thì bước lên. Có chị đã bật khóc khi Đức cha cúi xuống rửa chân, hôn chân và ôm chị. Người ta nói với tôi rằng năm cuối cùng của chị trước khi vào nhà trú ẩn là một năm cực kỳ khốn khổ của chị, chính vì vậy, việc được một người “quyền cao chức trọng” như Đức Hồng Y cúi xuống rửa chân, và hôn chân đã cho chị cảm nhận được rằng chị là một con người có phẩm giá và đáng trân trọng.

Tối thứ năm Tuần Thánh, sau khi ở lại giáo xứ, chầu Thánh Thể xong, lúc nhìn cánh cổng nhà thờ khép lại, tôi tự hỏi bây giờ “những người đạo đức” ai về nhà nấy, an yên trên giường ngủ, ai sẽ thức cùng Giêsu trong vườn cây dầu? Trên đường đi về nơi ở, tôi thấy các chị đang đứng co ro chờ khách, bỗng một ý nghĩ chạy qua đầu tôi rằng, có lẽ chỉ còn các chị thức mà thôi, và không biết rằng trong đêm dài này, có khoảnh khắc nào, các chị nghĩ đến có một Giêsu đang đau buồn tới đổ mồ hôi máu trong vườn Giếtsêmani cho chị, cho tôi chăng? Đêm đó, khi về căn nhà nguyện nơi chúng tôi ở, chúng tôi trang trí lại nhà nguyện, để Thánh Giá trên nấm mồ, phủ lên đó tấm khăn ghi tên của những chị đã mất trong năm vừa qua, có người chết vì bệnh tật, có người bị bạo hành tới chết, có người bị giết… Tôi đã nhận ra rằng không phải chúng ta thức với Giêsu, nhưng là chính Giêsu thi thoảng lại chạy ra để cho chúng ta biết, ngay trong giờ phút đau khổ nhất của Ngài, Ngài vẫn muốn đảm bảo rằng chúng ta biết Ngài chưa từng từ bỏ chúng ta.

Trên chuyến xe trở về cộng đoàn sau Thánh Lễ Chúa Nhật Phục Sinh, lòng tôi nặng trĩu. Tôi đã chạm vào một thực tại khác, một thực tại đầy mâu thuẫn và giằng xé. Những con người có thể rời đi nhưng không ai muốn đón nhận và không một cánh cửa nào mở ra với họ. Những người có một cuộc đời bấp bênh, bị kỳ thị kép. Những tiếng “không”, khi bị từ chối nghe thấy, từ chối nhìn thấy những tổn thương, từ chối đáp lại lời cầu cứu.

Trong lúc chờ đợi những đấng bản quyền cầu nguyện, phân định về mặt Thần Học, Luân Lý, Giáo Luật … liệu tôi có thể là một cánh cửa mở ra để ôm lấy những cuộc đời đổ vỡ như vậy không?

Tôi hỏi tôi, và tôi cũng muốn hỏi bạn.

-Vi, aci-

Nguồn: Vatican News